Những Điều Cần Biết Về Bệnh Ung Thư Trực Tràng.

Ung thư trực tràng là một trong những căn bệnh có tỷ lệ người mắc và tử vong hàng đầu trong các loại ung thư hiện nay. Vậy ung thư trực tràng là gì? Nó nguy hiểm như thế nào đối với sức khỏe người bệnh? Hãy cùng theo dõi bài viết này để có nhìn rõ hơn về căn bệnh nguy hiểm này nhé

  1. Ung thư trực tràng là gì?

Cuộc sống hiện ngày càng hiện đại thì con người ngày càng bận rộn và thường không để ý tới sức khỏe của chính bản thân mình và thường có những thói quen xấu không lành mạnh dẫn tới rất nhiều bệnh tật trong đó không thể không nhắc tới bệnh ung thư trực tràng.

Bệnh ung thư trực tràng hay còn được gọi là ung thư ruột kết là một căn bệnh xảy ra ở ruột già phần cuối của ông tiêu hóa (ruột kết). Tại đây hình thành các khối u bất thường chứa các tế bào ác tính và được gọi là ung thư trực tràng.

Căn bệnh ung thư trực tràng đã và đang trở thành những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe của người bệnh ung thư. Tuy nhiên, đây là một căn bệnh tiến triển khá dài, nên nếu có thể phát hiện sớm bệnh thì có thể có khả năng giảm thiểu những tử vong do ung thư được khả quan hơn rất nhiều.

  1. Những dấu hiệu nhận biết ung thư trực tràng.

Sau đây là những dấu hiệu ung thư trực tràng mà bạn có thể nhận biết sớm để đi khám và điều trị bệnh được hiệu quả.

+ Táo Bón: Nếu đi ngoài ít hơn 3 lần trong một tuần, bạn đã mắc chứng táo bón. Chứng này được sinh ra khi bạn thay đổi chế độ ăn uống hoặc luyện tập hàng ngày, đồng thời cũng là sự cảnh báo cho bệnh ung thư đại trực tràng đang xâm lấn cơ thể bạn.

+ Đi ngoài có chất nhầy lẫn máu đen: Khi bạn đi ngoài thấy xuất hiện có lẫn máu đen, phân có máu sẫm bất thường và trong phân có chứa các thành phần nhớt như dầu thì có thể đây là triệu chứng của ung thư trực tràng.

Xuất hiện tình trạng này là bởi trong đại tràng đã xuất hiện các khối u, xuất huyết hoặc màng khối u bị bong ra, tạo nên máu và nhớt có lẫn với phân.

+ Thói quen đại tiện thay đổi đột ngột: Tự nhiên những thói quen đi ngoài của bạn thay đổi hoàn toàn so với trước đây như có thể đi nhiều hơn hay đi ít hơn một cách bất thường và kéo dài thì có thể là dấu hiệu bào ung thư trực tràng.

Cùng với đó là những cảm giác đau bụng dù ăn bất cứ thứ gì, uống thuốc nhưng vẫn không đem lại tác dụng thì đây là tín hiệu báo động bạn cần phải cảnh giác, bạn nên đi khám và phát hiện sớm bệnh.

+ Hình dạng phân bất thường: Dạo gần đây bạn cảm thấy phân bị biến dạng, hình thức lúc này lúc kia không giống như trước đây thì bạn cần phải đặt ngay nghi vấn có thể bị mắc căn bệnh ung thư đại trực tràng.

Bởi lúc này có thể khối u đã xuất hiện và khi phân đi qua làm vướng và làm thay đổi hình dạng của phân.

+ Co Thắt dạ dày: Khi khối u phát triển trong ruột kết chúng có thể chặn đường đi và gây ra những cơn đau co thắt ở dạ dày mức độ nặng nhẹ tùy thuộc vào sự phát triển của bệnh. Nếu những cơn co thắt đó đi kèm cảm giác đau thì có thể khối u đã đi chọc vào thành ruột và hình thành nên bệnh ung thư đại trực tràng một cách nghiêm trọng.

+ Cân nặng giảm bất thường: Khi các khối trong ruột kết tiết ra những chất hóa học làm thay đổi sự trao đổi chất trong cơ thể sẽ gây nên hiện tượng giảm cân bất thường mà người bệnh không tìm được ra nguyên nhân.

  1. Các giai đoạn của ung thư trực tràng.

Ung thư trực tràng có mấy giai đoạn?

Ung thư trực tràng gồm các giai đoạn 0, I, II, III, IV, cụ thể như sau:

  • Giai đoạn 0

Ung thư biểu mô tại chỗ. Các tế bào ung thư chỉ có ở niêm mạc, hoặc các lớp lót bên trong đại tràng hoặc trực tràng.

  • Giai đoạn I

Ung thư đã phát triển xuyên qua lớp niêm mạc và lan xuống lớp dưới niêm mạc hoặc lớp cơ của thành ruột nhưng không lây lan sang các mô hoặc các hạch bạch huyết lân cận (T1 hoặc T2, N0, M0).

 

  • Giai đoạn II chia làm 3 cấp bậc

Giai đoạn IIa: Ung thư đã phát triển xuyên qua lớp cơ vào lớp thanh mạc của đại tràng hoặc trực tràng nhưng không lan sang các mô lân cận hoặc đến các hạch bạch huyết lân cận (T3, N0, M0).

Giai đoạn IIb: Ung thư đã phát triển đến lớp phúc mạc và không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc ở nơi khác (T4a, N0, M0).

Giai đoạn IIc: Khối u đã lan xuyên qua các lớp của đại tràng hoặc trực tràng và phát triển trực tiếp hoặc dính trực tiếp vào các cấu trúc lân cận nhưng không lây lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc ở nơi khác (T4b, N0, M0).

  • Giai đoạn III cũng chia làm 3 cấp bậc

+ Giai đoạn IIIa: Ung thư đã phát triển đến lớp dưới niêm mạc hoặc lớp cơ của thành ruột và lan rộng sang 1-3 hạch bạch huyết vùng. Hoặc đã lan đến các mô gần hạch bạch huyết nhưng chưa di căn sang bộ phận khác (T1 hoặc T2; N1 hoặc N1c, M0).

Hoặc tế bào ung thư đã lan qua lớp niêm mạc đến lớp dưới niêm. Ung thư đã di căn tới ít nhất 4 nhưng không nhiều hơn 6 hạch bạch huyết lân cận (T1, N2a, M0).

Giai đoạn IIIb: Khối u đã phát triển qua lớp cơ đến lớp thanh mạc hoặc qua lớp thanh mạc nhưng chưa vào các cơ quan gần đó, đồng thời di căn đến 1 -3 hạch bạch huyết vùng hoặc đã lan đến các mô gần hạch bạch huyết nhưng chưa di căn xa (T3 hoặc T4a, N1 hoặc N1c, M0).

Hoặc: Ung thư đã lan đến lớp cơ của thành ruột hoặc đến thanh mạc của thành ruột, di căn sang 4-6 hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa phát triển đến các cơ quan xa (T2 hoặc T3, N2a, M0).

Hoặc: Ung thư phát triển qua lớp niêm mạc đến lớp dưới niêm mạc hoặc lớp co của thành ruột, lây lan sang ít nhất 7 hạch bạch huyết vùng nhưng chưa di căn xa (T2, N2b, M0)

+ Giai đoạn IIIc: Ung thư phát triển qua lớp thanh mạc ruột nhưng chưa lan sang các cơ quan gần đó, đồng thời lây lan sang 4-6 hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa di căn xa (T4a, N2a, M0)

Hoặc: Ung thư đã phát triển qua lớp cơ vào lớp thanh mạc của thành ruột và di căn đến 7 hạch bạch huyết lân cận trở lên nhưng chưa di căn xa (T3 hoặc T4a, N2b, M0).

Hoặc: Khối u đã phát triển qua lớp niêm mạc xâm lấn trực tiếp hoặc dính trực tiếp vào cơ quan cận kề, đồng thời có trên 1 hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa di căn xa (T4b, N1 hoặc N2, M0).

  • Giai đoạn IV: chia làm 2 cấp bậc

Giai đoạn IVa: Ung thư đã phát triển qua tất cả các lớp của thành ruột và xâm lấn sang các hạch bạch huyết vùng. Đồng thời di căn đến một phần xa của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc phổi (T bất kỳ, bất kỳ N, M1a).

Giai đoạn IVb: Ung thư đã di căn ra hơn một phần xa của cơ thể (T bất kỳ, bất kỳ N, M1a).

ViCare hy vọng, bài viết này của chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề ung thư trực tràng có mấy giai đoạn, để biết, để nắm chắc và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho chính bạn và gia đình một cách tốt hơn.

  1. Phương pháp chuẩn đoán ung thư trực tràng.

+ Phương pháp thăm khám trực tràng

Là biện pháp giúp chẩn đoán những dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư trực tràng. Một người trên 40 tuổi kể ra các triệu chứng bất thường, bác sỹ dùng ngón tay mang găng sạch thăm khám ruột qua đường hầu môn, chẳng đau đớn gì cả. Ngón tay có thể rờ được khối u sần sùi, rút ngón tay ra có dính máu, đó chính là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ cao của ung thư trực tràng.

+ Phương pháp nội soi ruột

  • Nội soi là thủ tục kiểm tra ung thư ruột quan trọng nhất, nếu có tình trạng đi vệ sinh ra máu hoặc thói quen đi vệ sinh thay đổi, nhưng kiểm tra trực tràng không phát hiện có điều gì bất thường, cần tiến hành nội soi đại tràng xích ma hoặc nội soi sợi ruột kết.
  • Người bệnh được cho làm sạch ruột. Bác sỹ dùng ống soi mềm mại đưa vào sâu cách hậu môn khoảng 20 – 25cm hoặc suốt cả khung đại tràng. Bác sỹ soi thấy khối bướu thì cắt một miếng làm sinh thiết để xác định bệnh.
  • Soi đại tràng sigma cho phép bác sĩ quan sát bên trong trực tràng và phần dưới đại tràng, có thể cắt pôlyp hoặc mô bất thường để quan sát dưới kính hiển vi. Soi đại tràng cho phép bác sĩ quan sát bên trong trực tràng và toàn bộ đại tràng, cắt pôlyp hoặc mô bất thường để quan sát dưới kính hiển vi.

+  Phương pháp chụp X-Quang

Nguyên cả chiều dài của ruột bằng cách bơm chất ba-ri qua đường hậu môn gọi là chụp khung đại tràng có cản quang. Những hình ảnh bất thường sẽ cho những chẩn đoán về bệnh ung thư đại trực tràng. Khi phát hiện những tổn thương nhỏ còn có khả năng phun khí bari kép cho khoang ruột để tiến hành chụp ảnh so sánh, cho hiệu quả kiểm tra tốt hơn. Kiểm tra X-Quang giúp chúng ta quan sát một cách toàn diện trạng thái của đường ruột, xem có sự hiện diện của các khối u và các tế bào ung thư đa phát không.

+ Phương pháp cắt pôlyp

Là phương pháp cắt bỏ pôlyp trong khi soi đại tràng sigma hoặc soi đại tràng. Sinh thiết là thủ thuật lấy mẫu mô để bác sĩ giải phẫu bệnh quan sát dưới kính hiển vi và đưa ra chẩn đoán.

+ Phương pháp siêu âm, chụp CT hoặc kiểm tra MRI

Những phương pháp kiểm tra này không thể trực tiếp chuẩn đoán ung thư trực tràng nhưng có thể xác định được vị trí, kích thước và các tổ chức xung quanh khối u, có giá trị nhất định trong việc phán đoán có di căn hạch và gan hay không, giúp bác sỹ đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất cho người bệnh.

+ Phương pháp CEA

Xác định kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) là phương pháp được sử dụng phổ biến, là một trong những bước quan trọng nhất của quá trình kiểm tra ung thư trực tràng. Thông thường có giá trị trong việc đánh giá hiệu quả của việc điều trị và tiên lượng bệnh. Liên tục đo mức CEA trong huyết thanh có thể quan sát được hiệu quả của phẫu thuật và hóa trị.

5. Phương pháp điều trị ung thư trực tràng. 

Điều trị ung thư trực tràng gồm các phương pháp chủ yếu: phẫu thuật, xạ trị và hóa chất. Việc lựa chọn phác đồ điều trị thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: toàn trạng bệnh nhân, vị trí u nguyên phát, giai đoạn bệnh và các yếu tố nguy cơ. Hiện nay, với sự tiến bộnhanh chóng của phẫu thuật và xạ trị, kết quả điều trị ung thư trực tràng đã được cải thiện đáng kể.

– Phẫu thuật có vai trò chính trong điều trị triệt căn ung thư trực tràng. Tuy nhiên, các bệnh nhân chỉ phẫu thuật đơn thuần có tỷ lệ tái phát cao do phẫu thuật không thể lấy hết được các tế bào vi di căn. Theo tác giả, tỷ lệ tái phát của ung thư trực tràng khoảng 12 -32% sau phẫu thuật truyền thống [4]. Hiện nay, với sự hỗ trợ của các kỹ thuật ngoại khoa hiện đại như mổ nội soi, kỹ thuật khâu máy, kỹ thuật khâu – nối đại tràng – ống hậu môn và đặc biệt là kỹ thuật cắt toàn bộ u và cân quanh trực tràng (total mesorectal excision – TME) nên tỷ lệ tái phát giảm rõ rệt. Các vị trí tái phát hay gặp nhất ở khoang trước xương cùng, miệng nối trực tràng, sàn chậu (ung thư trực tràng thấp), thành khung chậu và hạch vùng chậu. Đây chính là yếu tố khiến bệnh nhân luôn lo lắng, phiền muộn, làm giảm chất lượng cuộc sống.

– Xạ trị có vai trò quan trọng, hỗ trợ trước hoặc sau mổ nhằm giảm khả năng tái phát tại vùng chậu. Thông thường, hóa chất có thể kiểm soát vi di căn và điều trị di căn xa. Hóa chất khi kết hợp xạ trịcòn làm tăng nhạy cảm tế bào ung thư với tia xạ giúp nâng cao khả năng tiêu diệt các tế bào vi di căn còn lại sau phẫu thuật.

+ Hóa – xạ đồng thời
Điều băn khoăn lớn của bệnh nhân là khi nào cần hóa – xạ trị và nên hóa – xạ trước hay sau mổ? Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng của mạng lưới ung thư toàn diện Mỹ năm 2015, hóa – xạ đồng thời trước hoặc sau mổ được coi là điều trị chuẩn đối với bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II-III (u xâm lấn khỏi thành trực tràng và/hoặc có di căn hạch vùng chậu) [2], [6].

Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy hóa – xạ trị sau mổ làm giảm tái phát tại chỗ, giảm tỷ lệ di căn xa và kéo dài thời gian sống thêm [3], [5], [10], [11]. Ưu điểm của hóa – xạ sau mổ là điều trị đúng giai đoạn và trường chiếu xạ được xác định chính xác hơn sau khi đã có kết quản giải phẫu bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này lại có nhược điểm là hiệu quả tiêu diệt tế bào ác tính kém hơn do giảm khả năng tưới máu sau mổ (ô xy là yếu tố giúp tăng nhạy xạ); tác dụng phụ trên ruột non cao hơn do ruột non đi xuống hố trực tràng; trường xạ ở những bệnh nhân u trực tràng thấp phải cắt bỏ tầng sinh môn tương đối rộng.

Hóa – xạ trước mổ có ưu điểm lớn nhất là làm giảm kích thước u do đó tăng khả năng mổ triệt để tổn thương và bảo tồn được cơ thắt đối với u trực tràng thấp. Lúc này, xạ trị có hiệu quả hơn do u được tưới máu nhiều hơn so với sau mổ. Bên cạnh đó, tác dụng phụ trên ruột non ít hơn do chỉ có phần nhỏ nằm trong vùng xạ. Tuy nhiên việc chẩn đoán giai đoạn trước mổ chỉ dựa trên hình ảnh nên cần phải đánh giá thật cẩn thận để tránh điều trị quá liều cho bệnh nhân. Các nghiên cứu so sánh cho thấy hóa – xạtrước mổ làm giảm tỉ lệ tái phát, giảm độc tính và tăng tỉ lệ bảo tồn cơ thắt hậu môn so với hóa – xạ hậu phẫu [9]. Vì vậy, tại các trung tâm lớn tại Mỹ, hóa – xạ trước mổ được ưu tiên tư vấn cho bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn II-III.

+ Xạ trị trước mổ
Theo hướng dẫn thực hành của hội ung thư châu Âu năm 2013 [7], các bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn tiến triển có thể được chỉ định xạ trị ngắn ngày trước mổ với liều 25Gy/5buổi, phẫu thuật được tiến hành trong vòng một tuần sau xạ trị. Phương pháp này có ưu điểm đơn giản, tiết kiệm thời gian và chi phí cho bệnh nhân. Các nghiên cứu so sánh thấy rằng xạ trị trước mổ có kết quả sống thêm và độc tính muộn tương đương nhưng giảm độc tính sớm rõ rệt so với hóa – xạ trước mổ [8]. Chính vì vậy, xạ trị trước mổ có thể là lựa chọn hợp lý đối với điều kiện bệnh nhân ung thư trực tràng ở nước ta hiện nay.

6. Nguyên tắc ăn uống cho bệnh nhân ung thư trực tràng.

  • Ăn uống đầy đủ
  • Đa dạng thực phẩm đảm bảo đủ các nhóm chất: đạm, bột đường, chất béo, vitamin, khoáng chất, nước…
  • Ăn theo nhu cầu và sở thích của bệnh nhân để phục hồi sức khỏe, cải thiện chức năng miễn dịch, tăng cân tốt hơn.

Một số nguyên tắc chung về ăn uống đối với bệnh nhân ung thư đại tràng như sau:

  • Nên lựa chọn các loại thức ăn ít béo, dễ tiêu hóa, chưa qua tinh chế.
  • Nên ăn thịt gà, các loại thức ăn chế biến từ sữa, trứng
  • Mỗi ngày nên uống 1-2 cốc sữa.
  • Ưu tiên trong thời kỳ điều trị bằng hóa chất và phóng xạ nên ăn các loại thức ăn thực vật như ngũ cốc được để hạn chế cảm giác thấy buồn nôn, nôn mửa.
  • Nên ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi lần với số lượng ít một, số lượng bừa phù hợp là 6-8 bữa.
  • Ăn các loại thức dễ tiêu hóa như các thức ăn lỏng, ít chất béo, ít mặn
  • Ăn nhiều rau xanh, bổ sung vitamin bằng cách dùng thêm các loại nước ép hoa quả như bơ, chanh, cam, táo, cà rốt.
  • Nếu mệt mỏi khó ăn hoặc ăn ít, có thể dùng thêm sữa.
  • Hạn chế đồ ăn được chế biến như nướng, rán…
  • Nên ăn các thức ăn chế biến đơn giản như hấp, luộc vừa đảm bảo giữ nguyên giá trị thực phẩm đồng thời hạn chế các tác nhân không tốt trong khi chế biến.
  • Không ăn các thực phẩm chế biến, đóng bao bì sẵn như xúc xích, lạp sườn…đặc biệt là các thực phẩm trôi nổi không nguồn gốc.
  • Không uống rượu, các thức uống có ga, có cồn.
  • Nên uống nước thường xuyên, liên tục từ 8 cốc nước 1 ngày.

Việc tham khảo ý kiến của bác sĩ đang điều trị cho mẹ bạn để được tư vấn dùng những sản phẩm thuốc phù hợp nhất.Khi không có bác sỹ chuyên khoa, không nên tự ý dùng thêm bất kỳ loại thuốc nào khác.

Bên cạnh chế độ ăn hợp lý cũng cần có thể tập luyện, sinh hoạt nhẹ nhàng trong nhà.

Đối với người đã, đang hoặc chưa mắc ung thư đều cần quan tâm đến bài viết này nếu muốn có chế độ ăn uống hợp lý, đặc biệt là nếu bạn đang mắc ung thư trực tràng. Chúc các bạn sức khỏe!

 

 Bổ sung  Magiê dạng ion giúp giảm độc tính do hóa- xạ trị.

Brazillian Journal of Medical and Biological ResearchCisplatin, thuốc trị liệu dựa trên các loại hóa chất để điều trị các loại ung thư và có thể gây ra một số tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm thiếu Magiê ở 90% bệnh nhân. Nghiên cứu thuộc chuyên san Brazillian Journal cho thấy gần một nửa số bệnh nhân ung thư tại đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) có mức Magiê thấp.

Europian Journal of CancerKết quả từ chuyên san Europian Journal of Cancer cũng cho thấy việc bổ sung Magiê để dự phòng có thể ngăn ngừa tác dụng phụ này và giảm mức độ nghiêm trọng của tổn thương trên thận do Cisplatin gây ra mà không ảnh hưởng đến tác dụng chống ung thư của thuốc.

Trên thực tế, trong số những bệnh nhân ung thư được điều trị bằng Cisplatin ở những người dùng Magiê, bệnh được ức chế đáng kể và có thời gian sống kéo dài hơn so với dùng giả dược. Tỉ lệ sống tăng thêm 4 năm, 63% ở nhóm Magiê và 36% ở nhóm dùng giả dược.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu từ Nhật Bản được xuất bản trên các chuyên san: Japanese Journal of Clinical Oncology, BMC Pharmacology & Toxicology, Acta Medica Nagasakiensia, Supportive Care in Cancer cũng chỉ ra rằng, sử dụng Magiê trước và sau khi trị liệu bằng Cisplatin làm giảm đáng kể độc tính do Cisplatin, làm giảm đáng kể độc tính do Cisplatin gây ra trên thận ở các bệnh nhân ung thư.

Hơn nữa, một số hóa trị liệu (và nhiều thuốc giảm đau) có thể gây táo bón. Magiê là chất nhuận tràng tự nhiên, với hàm lượng từ 200 – 1000 mg mỗi ngày, đã được chứng minh là rất hiệu quả. Vì vậy các nhà nghiên cứu khuyên bệnh nhân nên bổ sung Ion Magiê  mỗi ngày bằng cách sử dụng Ionic Magesium.

 

 

6 LÝ DO NÊN SỬ DỤNG IONIC MAGNESIUM

  1. Sản phẩm bổ sung khoáng chất bán chạy số #1 tại Hoa Kỳ.

Theo đánh giá của công ty phân tích SPIN® năm 2016, Ionic Magnesium là nhãn hiệu bán chạy số 1 Hoa Kỳ về bổ sung khoáng Magiê.

  1. Nguồn Magiê tự nhiên khai thác tại Great Salt Lake, Utah, Hoa Kỳ.

Sản xuất bởi Trace Minerals Research® (thành lập từ 1969), sử dụng công nghệ độc quyền ConcenTrace™ giúp loại bỏ 99% tạp chất, tạo ra nguồn khoáng Magiê tinh khiết và an toàn nhất.

  1. Magiê trong Ionic Magnesium có tỉ lệ hấp thụ vào cơ thể lên đến 100%

Nguồn Magiê trong Ionic Magnesium là muối Magiê Clorid. Khác với các sản phẩm có chứa Magiê khác (thường là Magiê Sulfat, ít hòa tan và dễ bị đào thải), Magiê Clorid có sinh khả dụng lên đến 100% – theo nghiên cứu của tiến sĩ Carolyn Dean – giúp hấp thụ hoàn toàn ion magiê vào cơ thể – tương đương khi truyền qua huyết thanh.

  1. Đạt những chứng chỉ chất lượng và an toàn khắt khe nhất của Hoa Kỳ

chung-nhan

5.Các chuyên gia hàng đầu trên thế giới khuyên dùng

6.Bộ Y tế cấp phép. Hàng nhập khẩu chính hãng 100%

Công ty Cổ phần Dược phẩm và Thiết bị Y tế Nhật Đức (NHATDUC Medical Equipment and Medicine JSC) là nhà phân phối chính thức Ionic Magnesium tại thị trường Việt Nam.

CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN MẠI THÁNG 12: MUA 2 IONIC MAGNESIUM TO 400mg –> TẶNG 1 IONIC MAGNESIUM 400mg.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.